Ăn dặm
Bé mấy tháng ăn dặm: vì sao các bác sĩ khuyên mốc tròn 6 tháng
WHO, Bộ Y tế khuyên ăn dặm khi bé tròn 6 tháng: kho sắt vơi dần, lưỡi hết đẩy thức ăn, bé ngồi vững. Sớm quá hay muộn quá đều thiệt, bé sinh non tính riêng.
Bé ăn dặm từ tròn 6 tháng: dấu hiệu sẵn sàng, các cách ăn dặm, độ thô theo tháng, dị ứng và phòng hóc.
Ăn dặm
WHO, Bộ Y tế khuyên ăn dặm khi bé tròn 6 tháng: kho sắt vơi dần, lưỡi hết đẩy thức ăn, bé ngồi vững. Sớm quá hay muộn quá đều thiệt, bé sinh non tính riêng.
Ăn dặm
Bé sẵn sàng ăn dặm khi ngồi được có đỡ, giữ đầu vững, tự đưa đồ lên miệng và nuốt thay vì đẩy ra. Mút tay, đòi bú đêm, mọc răng không phải dấu hiệu ăn dặm.
Ăn dặm
Ăn dặm truyền thống nấu chung bột cháo đủ chất, kiểu Nhật nấu riêng từng món theo bốn giai đoạn, BLW cho bé tự cầm miếng mềm. Ưu, nhược và cách kết hợp.
Ăn dặm
Bữa ăn dặm đầu nên là món mịn, sệt bám thìa như cháo rây, khoai lang nghiền; một bữa mỗi ngày, vài thìa rồi tăng dần, sớm thêm thịt cá trứng để bé đủ sắt.
Ăn dặm
Độ thô tăng theo tháng: 6 tháng mịn sệt, 7–8 tháng nghiền lợn cợn, 9–11 tháng băm nhỏ và cầm miếng mềm, 12 tháng cơm nát. Đừng để bé ăn đồ xay quá lâu.
Ăn dặm
Trứng, cá, tôm, đậu phộng nên giới thiệu từ khi ăn dặm quanh 6 tháng, không cần kiêng. Mỗi lần một món, nấu chín, ăn ở nhà buổi sáng; bé chàm nặng khám trước.
Ăn dặm
Bé dưới 1 tuổi không cần nêm muối đường và không ăn mật ong kể cả nấu chín. Muối nặng thận non, đường hại răng, mật ong có thể gây ngộ độc botulinum ở trẻ nhỏ.
Ăn dặm
Phòng hóc khi ăn dặm: cắt nho, cà chua bi làm tư theo chiều dọc, nấu mềm đến mức bóp là nát, bé ngồi thẳng có người lớn cạnh. Phân biệt ọe với hóc, học sơ cứu.
Ăn dặm
Khi ăn dặm, sữa vẫn là nguồn chính: WHO cho biết sữa mẹ đáp ứng một nửa hoặc hơn nhu cầu năng lượng bé 6–12 tháng. Bú theo nhu cầu, sữa công thức tới 12 tháng.
Ăn dặm
Đồ ăn dặm nấu sẵn để nguội nhanh, cất tủ trong 1–2 giờ; ngăn mát dùng trong 2 ngày, ngăn đông ghi ngày. Hâm kỹ một lần, không đông lại; đi xa mang lạnh có túi đ